Writings

Chủ nghĩa siêu hình học trong ẩm thực của Haruki Murakami

Những căn nhà kẹp hai bên lối đi hoàn toàn tách biệt, nhưng lại hoà lẫn nhau thật hoàn hảo giống như thứ chất lỏng thuộc về hai trường trọng lực khác nhau vậy. Đầu tiên là những ngôi nhà cổ kính từ xa xưa, với sân sau rộng lớn; rồi tới những căn nhà hiện đại hơn. Chúng không hề có dù chỉ một chiếc sân; hay thậm chí bất cứ một không gian mở nào. Còn chẳng đủ chỗ giữa mái hiên và lối đi để phơi hai hàng quần áo. Ở một số căn nhà, quần áo thật sự được treo trên lối đi, khiến tôi buộc phải len lỏi qua từng hàng khăn và áo sơ mi vẫn còn đang ướt sũng. Tôi ở rất gần đến mức nghe được cả tiếng TV đang bật và tiếng xả nước. Tôi còn ngửi được cả mùi cà ri từ một căn bếp nào đó. 

The Wind-up Bird & Tuesday’s Women from The Elephant Vanishes

Văn chương về ẩm thực thường bị chê cười bởi lối hành văn mềm mại và hoa mỹ – điều vốn không hợp lý bởi thức ăn là phần quan trọng đối với sự tồn tại của chúng ta. Ngoại trừ những nhà văn chuyên viết về ẩm thực, nhiều tiểu thuyết gia đã chạm đến khía cạnh tinh thần và cảm xúc của ẩm thực, từ Marcel Proust tới Nora Ephron, nhưng không một ai nâng tầm ẩm thực tới ngưỡng nhân văn mà vẫn giữ được nét gần gũi như tiểu thuyết gia Nhật Bản Haruki Murakami. Tài năng này của Murakami vẫn luôn được những người hâm mộ ông trân trọng, và đã có một vài bài blogs viết về những món ăn mà các nhân vật của ông đã chuẩn bị, như What I Talk about when I talk about cooking. Murakami đã sáng tạo nên những cốt truyện phức tạp với diễn biến tâm lý lắt léo, nhưng dù những câu chuyện của ông mang vẻ huyền hoặc tới cỡ nào, những nhân vật dưới ngòi bút ông vẫn thật gần gũi. Ẩm thực trong văn chương Murakami đóng vai trò như yếu tố cân bằng giữa chủ nghĩa siêu thực và cuộc sống đời thường. Ông lấy ẩm thực làm nguyên liệu để dệt vào câu chuyện của mình một cách chân thực, truyền tải những thông điệp sâu xa về lý do vì sao chúng ta cần tới thức ăn, chúng ta ăn gì và như thế nào. 

Không gian mà Murakami dành cho ẩm thực trong những tiểu thuyết của ông rất bất thường. Trong Dance Dance Dance, không một ngày nào trôi qua mà người kể chuyện không kể cho người đọc nghe về bữa ăn hàng ngày của mình. Hẳn nhiên, ẩm thực không hề ảnh hưởng tới cốt truyện, mặc dù quyển sách này kể về một chàng trai tìm lại cô gái điếm anh ta đã yêu từ lâu. Murakami diễn tả chi tiết từng bữa ăn của nhân vật vô danh này với giọng văn điềm tĩnh lạ kỳ. Trong một phân đoạn, anh ta đang sống tại một khách sạn hạng sang và than thở rằng mình đã phát ngán với những bữa sáng cầu kỳ tại đây, nên anh đã tới Dunkin Donuts và gọi hai chiếc bánh muffins. (“Nếu bạn thấy phát ngán với bữa sáng ở khách sạn, thì Dunkin’ Donuts chính là lối thoát của bạn. Nó rẻ và bạn được lấy thêm cà phê mà không mất thêm tiền”.) Chàng trai này đang sống ở những thập niên 1980 tại Nhật Bản, nhưng chi tiết này, ngay lập tức, khiến anh ta trở nên thân quen và dễ dàng tiếp cận bởi người hiện đại chúng ta. 

Image for post
“Dù bạn có coi cái lỗ giữa bánh doughnut là một khoảng không vô định hay là một sự tồn tại tách biệt nằm ngay giữa chiếc bánh, thì nó vẫn chỉ là một câu hỏi siêu hình và chẳng ảnh hưởng tới hương vị của chiếc bánh này chút nào cả.” – A Wild Sheep Chase

After Dark là một tiểu thuyết ngắn, mở đầu với khung cảnh tại quán Denny vào đúng 23:56. Trong một vài trang sau đó, ta gặp Takahashi, một nghệ sĩ thổi kèn trombo vẫn đang là sinh viên, tới quán Denny vào một đêm muộn để ăn salad gà và bánh mì nướng. Sau đó người đọc chứng kiến một cuộc độc thoại về món salad của quán Denny, nói rằng mặc dù món ăn đó là tất cả những gì anh gọi, anh vẫn nhìn chằm chằm vào chiếc menu. “Không phải sẽ rất buồn sao nếu như ta bước vào quán Denny mà chẳng liếc qua chiếc menu? Nó giống như nói với cả thế giới rằng ‘Tôi đến quán Denny suốt ngày bởi vì tôi yêu món salad gà’.” Sự nhận thức của Takahashi về niềm yêu thích của anh ta dành cho món salad gà (một sở thích mà nhân vật khác đã cho rằng nó giống “một cơn nghiện kỳ quặc”) lại một lần nữa, khiến nhân vật trở nên gần gũi với chúng ta.

Đối với Murakami, những gì chúng ta nuốt xuống dạ dày phản ánh lại con người của chính chúng ta. Trong 1Q84, chủ nhân của Biệt thự Cây Liễu là một goá phụ giàu có, bà thường ăn những nguyên liệu tươi nguyên và thưởng thức những bữa ăn đậm chất Pháp như “măng tây trắng luộc, salad Nicoise và trứng omelet cùng thịt cua.” Bà ăn khẩu phần nhỏ và dùng cùng với trà, “tựa như một bà tiên sống ẩn dật sâu tít trong một khu rừng đang nhấm nháp một buổi sáng đầy sức sống”. Ta sẽ nhận thấy từ chế độ ăn và cung cách trên bàn ăn của bà, rằng bà không chỉ được lớn lên trong một nền giáo dưỡng cẩn thận, nghiêm khắc mà bà gần như được “giác ngộ”. So sánh với Ushikawa, một tay từ-luật-sư-trở-thành-thám-tử-tư nhếch nhác, người đã bị gia đình bỏ rơi và không có một đời sống lành mạnh, chỉ có thể theo dõi cuộc đời người khác do yêu cầu công việc. Hắn ta là kẻ đê tiện tự ghê tởm chính mình và bữa ăn của hắn cũng chẳng khác gì. Trong khi bà chủ ăn rau quả tươi ngon, Ushikawa ăn thức ăn chế biến sẵn như đào hộp và bánh mì phết mứt, hắn sống ngày qua ngày mà chẳng cần tới một bữa ăn nóng hổi. Bà chủ chăm sóc cơ thể mình và thờ phụng nó như một thần điện, Ushikawa lại đối xử với cơ thể mình chẳng khác nào rác rưởi. Người phụ nữ ấy luôn hài lòng và thanh thản với bản thân mình, hắn thì không.


Yuki, một cô gái 13 tuổi trong Dance Dance Dance, có một chế độ ăn giống hệt với Ushikawa. Mặc dù cô có xuất thân hoàn toàn khác biệt với hắn, xu hướng ăn thực phẩm không lành mạnh cũng xuất phát từ thiếu thốn tình yêu thương. Cha mẹ của cô bé rất giàu có và nổi tiếng, nhưng họ lại xa cách lẫn nhau để rồi bỏ mặc, ghẻ lạnh con gái của mình. Cô không hề làm bạn với bất kì ai cho tới khi cô gặp nhân vật chính trong câu chuyện – người hơn cô 20 tuổi đã trở thành bạn đồng hành thuần khiết (tức không hề có ý niệm dục vọng xen vào mối quan hệ) kiêm bảo mẫu của cô bé. Trong một trích đoạn, anh đã gọi và hỏi cô bé có đang ăn uống lành mạnh không. “Để em xem nào. Đầu tiên là gà rán KFC, rồi McDonald, rồi kem Dairy Queen,” cô bé nói. Khi họ cùng nhau ra ngoài, anh đã cấm tiệt toàn bộ thức ăn nhanh. Sau đó, anh dẫn cô tới một nhà hàng nơi họ dùng bánh mì được làm từ lúa mạch cùng thịt bò nướng. Anh ta kể rằng, “Tôi còn bắt cô ấy uống một ly sữa thanh trùng nữa. Thịt bò rất mềm và tuyệt ngon khi ăn kèm với rau cải ngựa. Một bữa ăn mỹ mãn. Như vậy mới thật sự là ăn chứ!” Nhân vật “tôi” tiếp quản lấy vai trò nuôi dưỡng mà lẽ ra cha mẹ của Yuki phải đảm nhận, và anh ta đã chăm sóc cô ấy cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. 

Image for post
Image: Joseph Nicolia

Murakami thường miêu tả những nhân vật của mình đích thân tự nấu ăn, như một ngụ ý cho sự độc lập của họ. Trong Dance Dance Dance, bạn trai của mẹ Yuki là một nhà thơ đã cụt mất một bên tay, người cắt bánh sandwich giăm bông thật hoàn hảo đến nỗi nhân vật “tôi” phải tự hỏi thành tiếng rằng ông ta đã làm như thế nào vậy. Trong Norwegian Wood, Toru đã ngắm nghía Midori với vẻ kính sợ lẫn nể phục khi cô ấy nấu bữa trưa mà như đang biểu diễn trên sân khấu (“Vừa mới bắt đầu luộc cá ở đây, một giây sau đã thấy thái tanh tách ngoài thớt, rồi lấy cái gì đó trong tủ lạnh ra chất đầy vào một cái bát, sau đó nhoáng một cái đã rửa xong cái nồi vừa mới dùng.”). Midori đã tự học nấu ăn từ lớp năm bởi vì mẹ cô không hề quán xuyến chuyện nhà cửa. Lần đầu chúng ta gặp Midori trong câu chuyện, cô ấy về cơ bản đã là một thiếu nữ mồ côi cha mẹ: mẹ cô ấy đã mất, còn cha cô ấy thì hấp hối trong bệnh viện, chị gái cũng đã đính hôn. Mặc dù quá khứ bị bỏ rơi như vậy, cô ấy vẫn tự chăm sóc bản thân mình rất tốt.

Nấu bữa ăn còn nhiều hơn cả một thông điệp của sự độc lập, nó là hành vi xuất phát từ trong nội tâm mà các nhân vật cần tới để điều hoà những hỗn loạn của thế giới bên ngoài. Trong 1Q84, hai nhân vật chính – Tengo và Aomame, đã bước vào một thế giới phản địa đàng nơi họ bất lực trước số phận của chính mình. Khi mà Tengo đang bị theo dõi bởi tên cặn bã Ushikawa vừa được nhắc tới bên trên và đang chật vật với nỗi lo sợ về lời cáo buộc viết sách “ma” (ghostwriting) cho một tác phẩm bán chạy, thói quen về nhà và tự nấu ăn hàng ngày cho phép Tengo được thanh thản chút ít, tạm tránh xa khỏi mớ hỗn độn đang bủa vây. Anh ta thường tự trau chuốt cho khẩu phần của mình từ bất kì thức ăn nào có sẵn trong tủ lạnh. Murakami đã nói rằng ứng biến cũng chính là cách nấu ăn ưa thích của ông. Trong một trích đoạn, Tengo đã nấu “cơm pilaf dùng thịt nguội và nấm với gạo nâu, ăn kèm súp miso từ đậu phụ và tảo bẹ Undaria.” Nấu ăn, đối với Tengo không phải là việc nhà mà giống như một cách thiền định. Anh ta “coi nấu ăn như một khoảng thời gian để suy ngẫm về “tất cả vấn đề hàng ngày, về toán học, về văn chương… anh có thể sắp xếp suy nghĩ của mình rành mạch hơn khi đứng ở trong bếp và luôn tay luôn chân thay vì ngồi yên một chỗ.”

Ta không cần phải tới gặp bác sĩ tâm lý để biết rằng thức ăn có thể mang tới sự dễ chịu, nhưng đối với Murakami, sự bình thản còn được tìm thấy trong ý niệm xuất phát từ quá trình chuẩn bị cho nó. Trong The Wind-Up Bird Chronicle, Toru mới bị thất nghiệp và dành đa số thời gian để nấu ăn, đồng thời tìm kiếm con mèo bị lạc của mình. Vào đầu quyển sách, tiếng chuông điện thoại reo lên khi anh đang nấu spaghetti (chương 1) cùng một chiếc sandwich kẹp cà chua với phô mai (chương 3), anh đã ngó lơ tiếng chuông réo rắt cho tới khi nấu nướng xong. “Tôi để cho điện thoại reo 3 lần và cắt đôi chiếc sandwich. Sau đó tôi đặt nó lên đĩa, lau sạch con dao và cất nó vào trong ngăn kéo, trước khi tự rót cho mình một tách cà phê mà tôi đã đun nóng từ trước. Nhưng tiếng chuông điện thoại vẫn cứ reo.” Toru chú ý tới từng bước nhỏ nhặt xuyên suốt quá trình nấu ăn ấy. Bằng việc để yên cho tiếng chuông kêu liên hồi, anh ta cố gắng ngó lơ thế giới bên ngoài và tập trung vào thói quen ngày thường của mình.

Như bất cứ con người nào có thói quen ăn vặt, chúng ta đôi khi ăn chỉ để lấy đầy khoảng trống nào đó. Trong truyện ngắn The Second Bakery Attack, một cặp vợ chồng mới cưới thức dậy lúc nửa đêm với cơn đói cồn cào gan ruột. Họ mới kết hôn được hai tuần và không hoàn toàn hoà hợp với nhau (“chúng tôi vẫn chưa hề thống nhất một sự thấu hiểu chung nào dành cho nhau về vấn đề ăn uống. Chúng tôi cũng mặc kệ các vấn đề khác.”) Câu chuyện vẫn tiếp diễn, sau khi thất bại trong việc tìm kiếm đồ ăn trong bếp, họ tới McDonald để thực hiện một vụ cướp, nhưng thay vì cướp tiền, họ yêu cầu 30 chiếc Big Macs. Người chồng đã ăn 6 chiếc, còn người vợ ăn 4, và ngay sau khi cơn đói tan biến, họ trở nên gần gũi với nhau hơn

Image for post
Image: OiMax

Trong Kafka on the Shore, khi Kafka bỏ trốn khỏi căn nhà, anh đã trú tại một khách sạn và ăn một bữa sáng no căng với bánh mì nướng, sữa nóng, thịt nguội và trứng. Đó là một bữa ăn nóng hổi và đầy dinh dưỡng, nó nên lấp đầy cái dạ dày trống không của Kafka mới phải, nhưng anh không hề thấy no. Khi anh ngó nghiêng xung quanh trong tuyệt vọng để kiếm thêm đồ ăn, giọng nói trong đầu cậu ta (“cậu bé tên Quạ”) xen vào, “Cậu đang không còn ở nhà nữa, nơi cậu có thể nhét vào miệng bất cứ thứ gì cậu thích… cậu đã chạy trốn khỏi căn nhà của chính mình, phải không? Hãy nhớ kĩ nó ở trong đầu. Cậu đã sớm quen với việc dậy sớm và ăn một bữa sáng no đủ, nhưng những ngày tháng đó đã rất xa rồi, cậu bạn của tôi.” Kafka vừa bỏ lại một cuộc sống êm đềm mà cô đơn tại ngôi nhà của cha mình, với ý định mơ hồ về “hành trình tới một thị trấn xa xôi và sống trong góc của một thư viện nhỏ.” Cậu ta đã chọn đích đến của mình hoàn toàn ngẫu nhiên (“Shikoku, tôi quyết định rồi. Đó là nơi tôi sẽ tới. Không có một lí do cụ thể nào giải thích vì sao nó phải là Shikoku, chỉ khi mở tấm bản đồ ra tôi mới nổi lên ý nghĩ đó là nơi tôi nên tới.”). Vào thời điểm đó, Kafka vẫn chưa tới đích đến của mình để tìm ra căn nguyên tiềm thức đằng sau khao khát rời khỏi nhà, nhưng cơn đói vô độ là dấu hiệu đầu tiên cho hành trình của cậu ấy. Nó giống như cậu ta không thể cảm thấy đủ đầy trừ khi cậu được an toàn.

Có một phân đoạn trong Kafka on the Shore nói về một tích thần thoại trong Symposium của Plato, rằng mỗi con người trước kia được tạo nên bởi hai bản thể (nam-nữ; nam-nam; nữ-nữ), nhưng rồi Chúa đã cắt đứt tất cả thành hai nửa, nên họ dành cả cuộc đời để tìm kiếm phần bị thất lạc của chính mình. Ý tưởng này – cùng với ý niệm về con người là sinh vật cô đơn đến vĩnh cửu – luôn hiển hiện trong rất nhiều tác phẩm của Murakami, đặc biệt khi những nhân vật của ông đang dùng bữa. Midori và Toru đưa đẩy tán tỉnh lẫn nhau trong Norwegian Wood qua những bữa ăn. Họ gặp nhau lần đầu tiên tại một quán ăn tĩnh lặng gần trường đại học: Toru đang ngồi ăn một mình (trứng omelet cùng nấm và salad đậu xanh) và Midori, người đã nhận ra chàng trai từ trong lớp học, tách khỏi đám bạn và tiếp cận anh chàng để giới thiệu bản thân. Nàng hỏi có phải nàng đang gián đoạn bữa ăn của anh không và anh hoàn toàn phủ nhận, “Không hề, ở đây chẳng có gì để gián đoạn cả.” Người đọc nhận ra Toru bắt đầu có cảm xúc với Midori khi cô không xuất hiện ở trường và anh đành ngồi dùng bữa một mình – “một bữa ăn trưa lạnh ngắt, vô vị và cô đơn”. 

Image for post
Image: nadja robot

Trong khi một mối quan hệ được xây dựng trên nền tảng những bữa ăn chung như Norwegian Wood, The Wind-up Bird Chronicle lại ngược lại với những bữa ăn bỏ dở. Toru đã chăm nom việc nội trợ bằng việc đi chợ và nấu bữa ăn tối, trong khi vợ của anh, Kumiko đi làm. Cô thường có mặt tại nhà vào lúc 6:30 tối, nhưng có một đêm cô mãi không về nhà cho tới tận 9 giờ. Toru bắt đầu làm món thịt bò xào với hành, tiêu xanh và giá đỗ khi cô về nhà, nhưng trong khi anh đang nấu ăn, người vợ lại bắt đầu cãi vã với anh vì anh không biết rằng cô “rất ghét thịt bò xào với tiêu xanh.” Nó chính xác là một cuộc cãi vã phi lý mà ta bắt đầu khi ta tức giận với ai đó và cần lấy thứ gì đó ra làm lý do, nó đã phủ một bóng đen dày đặc lên tương lai của cặp vợ chồng. Một vài chương sau, cô hoàn toàn không trở về nhà nữa, còn Toru thì vô thức loanh quanh trong căn bếp, và ăn bữa sáng một mình. Nó còn đau đớn hơn nhiều so với những gì ta nhìn được ở bề mặt câu chữ: họ chưa từng lỡ một bữa sáng nào cùng nhau kể từ ngày kết hôn – hay nói cách khác, đây chính là khởi đầu cho sự kết thúc.

Trong một bài phỏng vấn tên “Art of Fiction” cho báo Paris Review, Murakami đã chia sẻ rằng, công việc của ông, với tư cách là một tiểu thuyết gia là để “quan sát mọi người và thế giới, không phải đánh giá họ.” Ông đã miêu tả cực kỳ chi tiết và tâm huyết về những nhân vật của mình khi họ đang ăn và nấu nướng, từng cử chỉ của họ đều trở nên quen thuộc với chúng ta khi chúng ta quan sát họ với ánh nhìn của người thứ ba. Chúng ta cùng trải nghiệm được cơn thèm muốn thức ăn nhanh của Yuki khi ta thấy trống rỗng từ bên trong, hay từng làn sóng hồi tưởng mà tĩnh tại của Tengo khi ta nấu bữa tối trong căn bếp sau một ngày dài mệt mỏi, và cả nỗi cô đơn của hai Toru khi ta ngồi ăn một mình – bữa ăn mà chúng ta luôn mong muốn được dùng với người chúng ta yêu thương.

Murakami dùng ẩm thực để thể hiện  toàn bộ những cảm xúc quen thuộc nhất về sự thanh thản, về tình yêu, về sự gắn bó và cả sự độc lập. Khi Toru vừa ngẫm nghĩ vừa ăn quả dưa chuột trong Norwegian Wood, “Thật tốt khi thức ăn ngon miệng. Nó khiến bạn cảm thấy như được sống lại vậy.” Chàng ta rút ra cảm nghĩ như vậy khi đang nhai một loại rau củ gần như không có calorie và nhạt nhẽo như nước lọc, điều này ngụ ý rằng ta có thể tìm được sự thỏa mãn ngay từ những điều giản đơn nhất. Ta có thể ăn một quả dưa chuột mà chẳng buồn quan tâm tới hương vị, hoặc bạn có thể sống và trân trọng hương vị mát lành được giấu phía bên dưới lớp vỏ đắng ngắt. Chúng ta không còn cần ăn để sống sót nữa, chúng ta cần ăn để được trải nghiệm cuộc sống này. 

ᴡʀɪᴛᴛᴇɴ ʙʏ Elaheh Nozari (2017)
sᴏᴜʀᴄᴇ Medium
ᴛʀᴀɴsʟᴀᴛᴇᴅ ʙʏ Arney
ᴇᴅɪᴛᴇᴅ ʙʏ Marguerite

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *